Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

Nhà văn Hồ Phương: 'Vui vẻ là tính trời tiên phong cho'.

Đó là câu chuyện xúc động về một vài vợ chồng

Nhà văn Hồ Phương: 'Vui vẻ là tính trời cho'

Xuyên suốt các tác phẩm của ông là tính nhân bản, sự cảm thông sâu sắc những con người ở hậu phương, những người vợ, người mẹ, những người lặng thầm lặng lẽ phía sau cuộc chiến đầy ác liệt.

Nhà văn Hồ Phương kể rằng, ông yêu văn chương từ nhỏ do ảnh hưởng từ hai anh trai mình, trong đó, anh trai Nguyễn Văn Côn, từng là tình báo viên thời chống Pháp, hoạt động trong nội thành Hà Nội ra Hà Đông, hy sinh khi 25 tuổi, ảnh hưởng nhiều tới ông nhất.

Do anh trai kể đã hấp dẫn cậu bé Hồ Phương một cách thiên nhiên đầy ma lực. Có nhẽ, con người văn học của đất Hà thành với những nét bút tinh tế, sâu sắc, đậm tính nhân bản lại được tôi luyện trong môi trường của người lính đã làm nên con người của Hồ Phương sức sống-sức viết dẻo dai, tràn đầy tâm huyết và lạc quan.

Bà ấy vốn là con nhà khá giả ở Hà Nội thời bấy giờ. “Cho đến giờ, khi nhắc lại các tác phẩm của mình, chẳng thể không nhắc đến Thư nhà (tác phẩm gây được tiếng vang rất lớn trong sự nghiệp viết văn của Hồ Phương).

Tôi hỏi ông, bút danh Hồ Phương là thế nào vậy? Ông tủm tỉm bảo rằng, đơn giản thôi, tên ấy được ghép từ tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh (ông rất ngưỡng mộ cụ Hồ) và tên của một cô bạn gái xinh xinh mà ông thích thời đi học. Đây là cái khốc liệt của chiến tranh. Thành thử, khi tôi hỏi, tại sao ông có thể viết khỏe thế ở tuổi này (ông sinh năm 1930), ông cười nói rằng bởi trời cho ông tính vui vẻ, đi qua hai cuộc chiến mà không khi nào thấy bi quan, thì tôi tin là ông nói thật.

Truyện ngắn này ông rất thích, đấy là truyện ngắn “Hà Nội nơi xa”, viết về cô gái ở phố Chân Cầm có tài pha trà rất ngon, cô có mái tóc dài đen óng ả, mặc áo trắng, hay chạy chân trần, gót chân hồng màu cánh sen rất đẹp. Nhà văn Hồ Phương kể rằng, thực tế kháng chiến là chất liệu chính trong các tác phẩm của ông. Cách mệnh tháng Tám năm 1945 thành công đã khơi gợi cho ông, dù lúc ấy vẫn đang tuổi niên thiếu, nguồn cảm hứng sáng tác, định hướng cho ông là một công dân nên sống như thế nào, mai sau nên đi về đâu.

Những năm tháng hành binh, sự trưởng thành của người lính khiến cho tay bút của ông càng ngày càng chắc chắn, vững vàng. Xuân Phong. “Trong hai tiểu thuyết này, thì “Ngàn dâu” đến giờ vẫn ám ảnh tôi (tiểu thuyết “Những cánh rừng lá đỏ” viết về chiến tranh biên cương năm 1950).

Viết với ông luôn là nhu cầu tự thân, dù là lúc chiến tranh hay thời bình. Tôi đi lính hết năm này qua tháng khác, mình bà ở nhà, nuôi bốn đứa con bằng đồng lương chết đói, bao lăm tem phiếu để mua vải cũng đem bán hết.

Câu chuyện được hư cấu, vì thực tại, nhiều gia đình tan vỡ vì người chồng không thể vượt qua những ám ảnh dù lỗi ấy không do vợ mình gây ra. Người vợ bị giặc hãm hiếp, cô ấy đã phải trốn chạy, người chồng đi tìm vợ trong đêm trăng, nhưng không phải để trách móc.

Nói chuyện cùng ông, lúc nào người đối diện cũng nhận thấy nụ cười tươi, khi câu chuyện được khơi đúng nguồn, ông nói liên tục không nghỉ với chất giọng trầm ấm, giàu nội lực. Ông viết về cuộc kháng chiến gian khổ, viết về Điện Biên Phủ, viết về các cô dân công, những em bé mất bố mẹ được hết người này đến người kia nuôi và họ trở nên những bà mẹ tập thể, những câu chuyện xúc động về người vợ bị giặc hiếp dâm,… Thư nhà (truyện ngắn, 1948), Là cờ chuẩn đỏ thắm (truyện, 1957), “Cỏ non” (truyện ngắn, 1960), Nhằm thẳng quân thù mà bắn (truyện, 1965), Chúng tôi ở Cồn Cỏ (Ký sự, 1966),… là những tác phẩm gắn với thực tế kháng chiến, gắn với mỗi vùng đất và con người nơi ông từng đi qua.

Những câu chuyện văn học Pháp như Ba người lính ngự lâm, thơ của Alphonse de Lamartine, tiểu thuyết của Victor Hugo,. “Chủ bút” của tờ báo “Con bò lười” Những ai gặp nhà văn Hồ Phương đều không khỏi kinh ngạc khi biết năm nay ông đã 83 tuổi; bởi nhìn ông vẫn rất nhanh nhẹn, tinh, nói cười hào sảng, dí dỏm, hết sức hiền lành.

Và điều tôi muốn nói đến ở đây là “lòng yêu nước rất Việt Nam”, yêu nước không tuyên bố, không nói lớn, ái tình ấy âm thầm nhưng mạnh mẽ khôn cùng, bền bỉ hết sức”, nhà văn Hồ Phương nói.

Khi tôi đi B về, nhìn thấy vợ gầy đen, mặc quần lụa đen đã bạc màu, gấu quần bị xích cắn (đi xe đạp mà), đội nón lá, trông thương lắm”, nhà văn rưng rưng nói.

Càng về sau, sức viết của Hồ Phương càng dồi dào, ông không chỉ viết ký, truyện ngắn mà viết nhiều tiểu thuyết như: Kan Lịch (1967), Những tầm cao (2 tập, 1972), Biển gọi (1980), rạng đông (1981), màng tang ấm sáng (1985), chân mây xa (1985), Cánh đồng phía Tây (1994).

Ông cũng là người chồng đi kháng chiến và ông hiểu sự mất mát, thiếu thốn, hy sinh lặng thầm ấy to lớn như thế nào. Sẽ viết tiểu thuyết về vợ mình Trong sự nghiệp viết văn của mình nhà văn Hồ Phương có cỡ 40 tác phẩm, nhưng tôi hỏi ông đã viết những tác phẩm nào thì nhà văn lắc đầu bảo ông chẳng nhớ hết. “Một lần, NSND Đình Quang gặp tôi (năm nay NSND Đình Quang cũng ngoài 80), ông ấy nhâm nhẩm: “Chị Bích Chân Cầm, chị Bích tóc mây” khiến tôi giật mình.

Nhà văn - người lính Nhà văn Hồ Phương tên thật là Nguyễn Thế Xương. “Bây giờ nghĩ lại mới thấy mình chưa cảm thông được hết cho vợ. Qua những sáng tác của ông, người đọc nhận ra một Hồ Phương luôn nặng lòng với từng mệnh con người, nhất là những con người ông từng sống, từng gặp trên mỗi bước đường hành binh.

Khi học lớp Nhất trường Bưởi ông đã viết văn, được phong làm “chủ bút” của tờ báo “Con bò lười” chuyên viết những câu chuyện hài hước, dỉ dỏm của lớp. Sau này, một người bạn là Nguyệt Tú đã cho tôi mượn lại, bà ấy nói, không được lấy của bà ấy đâu đấy, vì bà ấy chỉ có mỗi quyển truyện ấy”. Tôi không hiểu ông lấy ở đâu nguồn sinh lực dồi dào ấy để có thể dai sức với nghiệp văn, đi qua hai cuộc kháng chiến rồi trở về với đời thường đầy hứng khởi và khỏe mạnh đến thế.

Năm 1946, toàn quốc kháng chiến, Hồ Phương khi ấy mới 16 tuổi xuất hành đi bộ đội. Thế ra có người vẫn nhớ đến truyện ngắn ấy của tôi, mà bản thân tôi trong tay đến bản thảo của truyện ngắn này cũng không còn giữ. Ngồi nghe nhà văn Hồ Phương nói về dự định của mình mới thấy sức viết của ông thật đáng nể (trên 60 năm cầm bút). Bây chừ, nhà văn Hồ Phương dự kiến dành thời kì viết truyện về vợ mình, vợ ông đã mất cách đây hai năm, ông nói “đương nhiên đó phải là tiểu thuyết chứ”.

Đó là câu chuyện của một thanh niên trí thức Hà Nội gặp những rắc rối, bị hiểu lầm, có lúc phải bỏ đơn vị, chạy về phía bên kia; nhưng khi bị địch bắt thì sâu thẳm con người của đất Việt trong anh lại trỗi dậy. Từ đó, trên mỗi bước đường hành binh, những năm tháng mặt trận đầy oanh liệt đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận trong các sáng tác của Hồ Phương.

Chừng như tuổi tác không khuất phục được ông. Trong vòng năm đến bảy năm gần đây, ông cho ra mắt thêm bốn tiểu thuyết dày dặn: “Yêu tinh”, “Ngàn dâu”, “Những cánh rừng lá đỏ”, “Cha và con”. Trong đó, hai tiểu thuyết “Ngàn dâu”, “Những cánh rừng lá đỏ” đã mang lại cho ông giải thưởng cao quý - Giải thưởng Hồ Chí Minh (năm 2012).

Có truyện ngắn ông còn không nhớ là mình đã từng viết cho đến khi có người nhắc lại.

Nhiều người vợ chung số phận như thế, nhưng tôi viết Thư nhà vì mong những cách nhìn khác nhân văn và chia sẻ”, ông nói.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét