Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2013

Nợ công được tính đúng theo thông lệ quốc tế

Ông nghĩ sao khi nhiều quan điểm cho rằng, cách tính nợ công của Việt Nam hiện không theo thông lệ quốc tế?

Tôi khẳng định, quản lý nợ công của Việt Nam hoàn toàn tuân theo thông lệ quốc tế.

Tôi đã nghiên cứu mô hình quản lý nợ công ở nhiều nước trên thế giới, cả những nước có nền kinh tế phát triển, đang phát triển và chậm phát triển và thấy rằng, quản lý, phân loại nợ công của Việt Nam không có sự dị biệt so với thông lệ quốc tế.

Tức thị, nợ công gồm 3 thành phần: nợ chính phủ, nợ chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương.

Tính đến cuối năm 2011, nợ công của Việt Nam tương đương 54,9% GDP.

Trong đó, nợ chính phủ chiếm 78,5%; nợ được chính phủ bảo lãnh chiếm 20,7% và nợ của chính quyền địa phương chiếm 0,8%.

Còn tính đến cuối năm 2012, theo mỏng của Chính phủ trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 5, nợ công của Việt Nam tương đương 54,1% GDP.

Theo ông, tỷ lệ nợ công hiện thời có đích thực đảm bảo an toàn như tuyên bố của Bộ Tài chính từ trước đến nay?

Theo Quyết định 689/QĐ-TTg được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn Chương trình Quản lý nợ trung hạn 2013-2015, thì đến năm 2015, nợ công không quá 65% GDP, trong đó dư nợ chính phủ không quá 50% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP.

Cũng theo quyết định này, đến năm 2015, trách nhiệm trả nợ trực tiếp của Chính phủ (không kể cho vay lại) so với tổng thu ngân sách quốc gia hàng năm không quá 25% và trách nhiệm trả nợ nước ngoài của nhà nước hàng năm dưới 25% giá trị xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ.

So với tiêu chuẩn trên, thì nợ công của Việt Nam rất an toàn, an ninh tài chính quốc gia được đảm bảo. Cho đến thời điểm này, Chính phủ luôn bảo đảm bổn phận trả nợ cả gốc lẫn lãi đúng hạn, chưa để khoản nợ nào dây dính.

Nhưng vấn đề là, trong cơ cấu nợ công, thì khoản vay nước ngoài chiếm tới 60,82%, rất dễ dẫn đến rủi ro?

Từ trước đến nay, chưa năm nào chúng ta không bội chi. Khoản bù đắp bội chi phải được vay trong và ngoài nước, nếu vẫn không cân đối đủ, thì phải tạm ứng của Ngân hàng Nhà nước ưng chuẩn việc phát hành tín phiếu, nhưng phải hoàn trả trong năm ngân sách.

Các khoản vay nước ngoài của chúng ta cốt là vay vốn ODA với lãi suất thấp, có nhiều khoản chỉ phải trả với lãi suất 0,28%/năm và thời kì vay thì rất dài, ít ra là 20 năm, bình thường là 30 năm, thậm chí là 40 năm. Như vậy, rõ ràng là, so với vay trong nước, vay nước ngoài có nhiều ưu thế hơn.

Tuy nhiên, kể từ năm 2010, Việt Nam đã ra khỏi danh sách các nước có nền kinh tế chậm phát triển, nên việc thương thảo vay vốn ODA khó hơn. Lãi suất phải trả cũng cao hơn, nên chúng ta đang dần chuyển hướng vào việc huy động trong nước để bù đắp bội chi. Tôi cho rằng, nếu có thể thì vẫn nối vay vốn ODA để đầu tư phát triển, nhưng dù vay trong hay ngoài nước, vay vốn ODA hay vay thương mại, thì vẫn phải bảo đảm các tiêu chuẩn về an tài chính quốc gia và tuyệt đối chấp hành hình định 689/QĐ-TTg.

Vấn đề đặt ra nữa là việc dùng vốn vay. Kiểm toán Nhà nước cho biết, hầu hết các dự án được Chính phủ cấp bảo lãnh chưa đáp ứng đầy đủ đề nghị về tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu 20% tổng số vốn đầu tư của dự án, thưa ông?

Những dự án mà chủ đầu tư không bảo đảm đủ vốn đối ứng tối thiểu 20% tổng số vốn đầu tư là làm sai quy định, vi phạm luật pháp. Kết luận của Kiểm toán Nhà nước đã rõ, vấn đề là phải xử lý thật nghiêm những đơn vị vi phạm, chẳng thể xử lý bằng hình thức “rút kinh nghiệm được”. Tôi đề nghị, Kiểm toán quốc gia phải kiến nghị các cấp có thẩm quyền xử lý thật nghiêm vớ tổ chức, cá nhân chủ nghĩa vi phạm quy định trên ý thức thượng tôn pháp luật. Bởi việc sử dụng vốn đi vay do Chính phủ bảo lãnh mà không bảo đảm đúng yêu cầu, thì sẽ ảnh hưởng ngay tới an ninh tài chính nhà nước.

Mạnh Bôn


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét